Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

THỊNH VƯỢNG TOÀN CẦU

Trong bảng xếp hạng về thịnh vượng năm 2014 của Viện Legatum (Anh), Việt Nam đứng ở vị trí thứ 56 trong tổng số 142 nước được đánh giá, sau Trung Quốc 2 bậc và hơn Nga tới 12 bậc.

Bảng xếp hạng được đưa ra sau khi phân tích các số liệu về 8 hạng mục khác nhau bao gồm kinh tế, cơ hội kinh doanh, giáo dục, sức khỏe, y tế, tự do cá nhân, an toàn an ninh và vốn xã hội.
Trong đó, theo Robert D. Putnam, nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, vốn xã hội là “các mối liên kết giữa các cá nhân, các mạng lưới xã hội và các quy tắc và từ đó hình thành nên sự tin tưởng”. Một xã hội có nhiều cá nhân bị tách biệt thì không giàu vốn xã hội.

Một góc thủ đô Hà Nội nhìn từ trên cao. Ảnh: Internet
Việt Nam đã tăng lên 6 bậc, từ hạng 62 (năm 2013) lên 56 trong năm 2014. Theo đánh giá của viện Legatum,  trong số các tiêu chí, Việt Nam đạt tốt nhất trong lĩnh vực kinh tế (bậc 31); kém nhất ở vốn xã hội (bậc 80) và y tế (bậc 75).
So với các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam bị đánh giá kém hơn Singapore (18), Hồng Kông (20), Đài Loan ( 22), Malaysia (45), Thái Lan (51) và được đánh giá cao hơn Philippines (67), Indonesia (71), Lào (93), Campuchia (112).

Việt Nam kém Trung Quốc 2 bậc trong bảng xếp hạng thịnh vượng của viện Legatum (Anh).
Trong số 30 quốc gia đứng top đầu, có tới gần 2/3 là thuộc châu Âu. Các nước châu Á lọt vào top 30 là Singapore (bậc 18), Nhật Bản (19), Hong Kong (20), Hàn Quốc (25),  Mỹ chỉ đứng ở vị trí thứ 10 tổng thể.
Trung Quốc hơn Việt Nam 2 bậc, nằm ở vị trí 54.
Nga bị đánh giá là quốc gia hoạt động tệ nhất ở châu Âu, giảm tới 7 bậc, từ bậc 61 (năm 2013) lên bậc 68 (năm 2014), kém Việt Nam tới tận 12 bậc.
Na Uy vẫn là quốc gia thịnh vượng nhất thế giới trong năm thứ sáu liên tiếp. Đứng ở vị trí thứ hai là Thụy Sĩ, thứ ba là New Zealand. Đúng cuối cùng là Cộng hòa Trung Phi.

(Theo Infonet)

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

Dệt may Việt Nam giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc


Theo bà Đặng Phương Dung, Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, thời gian này, nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang hướng sang các nguồn cung khác từ khối các nước ASEAN và đặc biệt là Ấn Độ nhằm hạn chế phụ thuộc vào Trung Quốc.


Bên cạnh việc xúc tiến thương mại từ cấp Chính phủ giữa Việt Nam và Ấn Độ, ngày càng nhiều các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hợp tác, đầu tư với các doanh nghiệp Ấn Độ trong lĩnh vực dệt nhuộm hoàn tất.

Được biết, 11 tháng qua, sản xuất vải dệt từ sợi tự nhiên đạt 299,2 triệu m2 (tăng 15,8%); Sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo đạt 665,8 triệu m2 (tăng 5,6%); Sản lượng quần áo mặc thường đạt 2,73 tỷ cái (tăng 10,3%). Riêng xuất khẩu hàng dệt và may mặc ước đạt 19,18 tỷ USD (tăng 18,2%); Xơ, sợi dệt các loại ước đạt 2,3 tỷ USD (tăng 19,2%).

Nguồn Sưu Tầm

Năm 2014, tương lai sáng cho ngành dệt may

Từ những dự báo khả quan về tình hình kinh tế thế giới, đặc biệt là sự khởi sắc tại các thị trường lớn của ngành như Mỹ, EU, Nhật Bản…, ông Lê Tiến Trường, Phó chủ tịch Hiệp hội
Dệt may Việt Nam cho rằng ngành dệt may Việt Nam sẽ có tương lai sáng trong năm 2014.

Ông đánh giá thế nào về kết quả của ngành dệt may Việt Nam năm 2013?
Đến giờ phút này có thể khẳng định năm 2013 là năm thắng lợi của ngành dệt may Việt Nam. Ngành đã đạt 20,023 tỷ USD giá trị xuất khẩu, hai mặt hàng chính của ngành đều đạt được mức tăng trưởng khá, cụ thể: mặthàng dệt và may mặc đạt 17,891 tỷ USD, tăng 18,6%; mặt hàng xơ sợi dệt các loạiđạt 2,132 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ. Riêng Tập đoàn Dệt may Việt Nam,năm 2013 đạt 2,915 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 11,2% so với năm 2012.
Như vậy, với 14,885 tỷ USD giá trị nhập khẩu chosản xuất, năm 2013 ngành dệt may Việt Nam đã xuất siêu 5,138 tỷ USD.
Không thực sự khởi sắc như mảng xuất khẩu, tiêu thụ nội địa của ngành dệt may Việt Nam năm 2013 thấp hơn các năm trước (18-20%),đạt mức tăng trưởng 12% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, xét trong bối cảnh lạm phát năm nay thấp hơn các năm trước nên nếu loại trừ yếu tố giá khoảng 6% thì sự tăng trưởng về lượng vẫn nằm trong khuôn khổ tăng trưởng hợp lý của tiêu dùng trong nước.

Đâu là nguyên nhân chính giúp ngành dệt may Việt Nam đạt được mức tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng trong năm 2013?
Dự báo tốt tín hiệu thị trường chínhlà nhân tố quan trọng giúp ngành dệt may Việt Nam khởi sắc. Nhờ đã dự báo đúng thị trường mà các doanh nghiệp trong ngành đã tổ chức sản xuất phù hợp và đón lõng được thị trường khi những tín hiệu về hợp tác quốc tế, dịch chuyển chuỗicung ứng toàn cầu về phía Việt Nam ngày một rõ ràng. Và kết quả là xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam không chỉ tăng về tổng thể mà còn tăng mạnh tại các thị trường trọng điểm. Cụ thể, đối với thị trường Mỹ, năm 2013 xuất khẩu hàng dệtmay của Việt Nam vào Mỹ tăng gần 13% trong khi nhập khẩu của Mỹ chỉ tăng gần3%, Nhật Bản nhập  khẩu gần như khôngtăng thì chúng ta xuất khẩu tăng khoảng 13% và Hàn Quốc duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu gần 30%.

Ông nhận định thế nào về thị trường cũng như khả năng tăng trưởng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam năm 2014?
Trong các dự báo về kinh tế năm 2014 của các tổ chức lớn, uy tín trên thế giới như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế thì năm 2014 tổng thể kinh tế thế giới sẽ sáng hơn và có thể đạt mức tăng trưởng 3,6%. Thị trường Mỹ cũng được dự báo mức tăng trưởng GDP sẽ cao hơn; EU sẽ thoát khỏi suy thoái âm và hy vọng sẽ có sự tăng trưởng dương; Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn sẽ duy trì mức tăng trưởng của năm nay. Điều đó đem lại hy vọng, năm 2014 kể cả khi chúng ta chưa có những thỏa thuận thương mại mới với những điều kiện thuận lợi cho ngành thì vẫn có thể đạt mức tăng trưởng khoảng 12% kim ngạch xuất khẩu cho năm 2014.

Hiện 60% tỷ trọng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam vào các thị trường thuộc Hiệp định Đốitác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), còn các thị trường khác thìsao, năm 2014 liệu các thị trường này có tạo được sự bất ngờ cho xuất khẩu của ngành không, thưa ông?
Ngoài các thị trường trong khối TPP, còn 2 thịtrường không hề nhỏ là EU (chiếm 17% tỷ trọng) và Hàn Quốc (chiếm khoảng 7% tỷ trọng). Nhờ rất tích cực khai thác mà chỉ trong 3 năm xuấtkhẩu dệt may của Việt Nam vào thị trường Hàn Quốc tăng gần 3 lần, từ 500 triệuUSD năm 2010 lên 1,3 tỷ USD năm 2013. Bên cạnh đó, thị trường EU còn rất nhiềucơ hội mởrộng thị phần cho ngành dệt may Việt Nam bởi EU là khối liên tục mở rộng, từ chỗchỉ là EU 15 lúc chúng ta bắt đầu xuất khẩu nay đã là EU 27. Hàng năm, EU nhậpkhẩu hơn 250 tỷ USD hàng dệt may, trong khi đó chúng ta mới chỉ xuất 2,4-2,5 tỷUSD tức là thị phần của chúng ta ở thị trường này còn rất nhỏ. Theo đó, đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU là mục tiêu không chỉ 2014 mà còn của những năm tiếp theo. Ngoài ra, chúng tôi còn quan tâm đến 2 thị trường lớn là Ấn Độ và Trung Đông.

Ngành dệt may có giải pháp gì để mở rộng thị phần và đạt mục tiêu xuất khẩu trong năm 2014?
Chúng tôi đã xây dựng được một hệ thống giải pháp xuyên suốt nhiều năm và trong năm 2014 những giải pháp này vẫn không hề lạc hậu. Theo đó, ngành dệt may là vẫn phải bám vào 4 yếu tố: Chất lượng, giá cả, tốc độ cung ứng cho thị trường và khả năng giải quyết các vấn đề dịch vụ sau bán hàng. Đây luôn là những thước đo mà người mua hàng đo lường người sản xuất vì vậy để duy trì được sức cạnh tranh của mình mỗi năm ngành phải cải thiện thước đo của mình tốt hơn và đấy cũng chính là giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ xuất khẩu cho năm 2014.
(Nguồn ven.vn)

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Việt Nam tăng 6 bậc trong chỉ số thịnh vượng toàn cầu

Theo danh sách Chỉ số Thịnh vượng năm 2014 của viện Legatum, trụ sở tại London (Anh), Việt Nam xếp hạng 56 trong số 142 nước, trong khi Trung Quốc chỉ xếp trên 2 bậc ở hạng 54.


Việt Nam tăng 6 bậc trong chỉ số thịnh vượng toàn cầu, thể hiện tốt nhất trong lĩnh vực kinh tế, theo xếp hạng của Viện Legatum (Anh) - Ảnh: D.Đ.M

Theo báo cáo mới trên website Prosperity.com, Việt Nam từ hạng 61 (năm 2013) tăng lên 56 trong năm 2014, và thể hiện tốt nhất ở lĩnh vực kinh tế.

Để đánh giá, Viện Legatum tập trung cân nhắc 8 hạng mục khác nhau, cho thấy một nước thể hiện như thế nào về mặt kinh tế lẫn trong các lĩnh vực mấu chốt như giáo dục, sức khỏe, y tế, tự do cá nhân, an toàn, an ninh và cơ hội khởi nghiệp/doanh nhân.

Theo đó, Việt Nam thể hiện tốt nhất trong lĩnh vực kinh tế, đạt hạng 31/142, với các thế mạnh như tỉ lệ lao động 71% so với trung bình toàn cầu là 54,6%; thỏa mãn với tiêu chuẩn sống 83,5% so với 59,4%; có niềm tin vào các thể chế tài chính 87,2% so với 59,8% của thế giới.

Có đến 75,8% người được hỏi cho biết họ có thể dựa vào người khác trong lúc khó khăn, và 60,9% cho rằng Việt Nam là nơi định cư tốt cho lao động nhập cư.

Việt Nam đứng hạng 69 về khả năng khởi nghiệp và là môi trường tốt cho doanh nhân, với 74,2% cho rằng đây là nơi tốt cho doanh nhân khởi nghiệp, trong khi số điện thoại di động/hộ gia đình đạt 93%. Và trong khi đến 98,9% tin vào thực lực của quân đội và 92% tin vào chính phủ, nhưng dư luận cho rằng tình trạng tham nhũng cũng lan rộng, chiếm 41,6% theo khảo sát.

Được biết, Na Uy đứng đầu danh sách năm 2014, còn chót bảng là CH Trung Phi.

Viên Legatum thành lập vào năm 2006, hợp tác với Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) nổi tiếng tại Mỹ để thành lập Trung tâm Legatum chuyên về mảng phân tích tài chính và kinh tế.

Nguồn Sưu Tầm

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

TÚI VẢI KHÔNG DỆT - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT


Những năm gần đây, túi vải không dệt làm từ chất liệu Polypropylene đã trở thành dòng sản phẩm rất được ưa chuộng. Thật sự, túi vải không dệt là sản phẩm nổi bật nhất mà chúng ta có thể tìm thấy nhiều kiểu túi vải và hình ảnh in trên túi vải đang dùng vật liệu này.

Việc tìm ra các tùy chọn túi vải tốt nhất cho khách hàng thì có rất nhiều thứ để nói về polypropylene ví dụ vải không dệt được tạo ra như thế nào ?, đặc điểm vật lý, khả năng in ấn và đặc tính thân thân thiện với môi trường...và đó chỉ là một số đặc điểm nổi bật của chất liệu polypropylene.

Vậy làm sao chúng ta có thể hiểu được hết tất cả các thuộc tính, củng như kiểu dáng đa dạng của túi vải không dệt. Chúng tôi sẽ cung cấp một số thông tin để mọi người có cái nhìn rõ hơn về túi vải không dệt, thêm vào đó chúng tôi sẽ cung cấp các gợi ý về nguồn gốc, so sánh và làm sao sản phẩm đến tay khách hàng. Và cuối cùng người dùng sẽ có lựa chọn riêng phù hợp với nhu cầu của mình thông qua các thông tin thú vị dưới đây.

Polypropylene là gì ?

Đơn giản chỉ là một dạng khác của nhựa. Nó có mặt trong nhiều dạng khác nhau, cơ bản chỉ là loại polyme từ nhựa nhựa cây linh hoạt. Mặc dù tên hóa học gọi là vải polypropylene, nhưng tên thông thường được gọi là “vải không dệt” đơn giản vì vải không dệt là mảng ứng dụng lớn của loại nhựa này và nó không phải là vải dệt truyền thống.

chất liệu hạt nhựa dùng để sản xuất vải không dệt

Hình 1: Hạt nhựa polypropylen dùng để sản xuất vải không dệt

Làm thế nào vải không dệt được tạo ra ?

Quá trình tạo ra polypropylene được gọi là “quá trình trộn”. Các hạt polypropylene được đưa vào trong máy trộn cùng với nhiều loại màu sắc khác nhau. Sau đó chúng được đưa sang máy cán thông qua một vài hóa chất trơ và xử lý nhiệt. Cuối cùng trở thành những tấm vải không dệt được cuộn tròn để cho ra những cuộn vải thành phẩm.

Hình 2: Dây chuyền sản xuất cuộn vải không dệt

Đo lường trọng lượng - GSM là gì ?
Vải không dệt được đo lường thông qua GSM hay nói cách khác là số gam trên một mét vuông vải. GSM bao gồm trọng lượng và mật độ của vật liệu polypropylen. GSM càng cao thì mật độ và độ chắc chắn, độ bền theo thời gian của vật liệu càng cao.

Hầu hết vải không dệt trong công nghiệp được đo ở mức giữa 70 và 100GSM. Chọn lựa trọng lượng được xác định bởi kích thước và mong muốn của người dùng. Có sự khác nhau rõ ràng giữa hai thông số của vải không dệt mà chúng ta dể dàng thấy được. Điều này rất quan trọng vì mật độ của vật liệu được liên hệ trực tiếp đến chất lượng và độ bền của sản phảm. Thông thường 70 GSM chưa phải là loại tốt, thông số 100GSM là thông số chắc chắn và bền dành cho túi vải không dệt.

Chất lượng nguyên liệu

Trong khi GSM dùng để đo lường mật độ, nó không dùng để đo lường chất lượng của Polypropylene. Thực ra chất lượng của vật liệu được xác định bởi chất lượng và lượng nhựa Polypropylene thô được dùng.

Ví dụ, hãy tưởng tượng rằng bạn cung cấp cho khách hàng của bạn 3 cái áo thun khác nhau, mổi cái xác định trọng lượng là 6.2 ounce(1 ounce = 28,3495 gam) trên một yard vuông (1 yard = 0,9144m). Trong khi trọng lượng của áo thun được xác định, không có nghĩa là chất lượng của áo thun được xác định theo. Chất lượng vải cotton được dùng có thể khác nhau cho mổi cái áo thun.

Một vài loại áo sơ mi được tạo ra từ cotton và polyester, vài loại vải polypropylene có pha thêm hóa chất. Ví dụ, vài loại vật liệu vải polypropylene có thể chứa tỉ lệ phần trăm calcium carbonate, một loại vật liệu “độn” trơ giúp làm giảm hàm lượng polypropylene. Điều này giúp giảm giá thành nguyên liệu nhưng củng ảnh hưởng đến độ bền và chất lượng của sản phẩm.

Ngoài ra có một vấn đề quan trọng cần xem xét ở đây - kiểu của “máy tạo vải không dệt” dùng để sản xuất vải không dệt chất liệu polypropylene. Máy được dùng cho việc tạo ra vải không dệt, thông thường được sản xuất ở Trung Quốc hoặc ở các quốc gia Châu Âu. Máy cán được sử dụng rộng rãi để sản xuất polypropylene chất lượng cao. Vì vậy hãy đảm bảo yêu cầu của các nhà cung cấp máy cán ép để có sản phẩm vải không dệt đạt chất lượng cao.

Tính đồng nhất về màu sắc

Thêm một đặc tính tốt nữa của polypropylene đó chính là tính nhất quán của màu sắc thông qua bề mặt của của sản phẩm. Đôi lúc nó là vấn đồng nhất về màu sắc được dùng và đôi lúc nó là sự phản ánh mặt phẳng vật liệu được tạo ra.

Những mảng màu tối trên vải có thể xảy ra, tuy nhiên sự khác biệt của những phần tối này không lớn lắm. Tính nhất quán của màu sắc trên vải không dệt là ngang nhau và cung cấp nền màu tốt nhất cho khách hàng. Để cảm nhận tính “ đồng nhất của màu sắc” hãy thực hiện một kiểm tra nhanh bằng cách đưa vải không dệt ra ánh sáng để xem tính đồng nhất của màu sắc, củng như là mật độ trên bề mặt, độ mờ và độ đậm màu nếu có.

Đường may

Bởi vì nhiều mẫu vải được may lại với nhau, hình dáng và mật độ mũi khâu được dùng để tạo ra sản phẩm túi vải không đệt được xem xét rất cẩn thận. Làm thế nào vải được khâu lại với nhau chắc chắn và bền chặt.

Chúng ta có suy nghĩ như sau: Nếu vật liệu vải không dệt là một mảng nhựa lớn, mỗi lần khâu nó lại tạo ra một lổ trên vật liệu. Nếu máy khâu đặt quá nhiều mũi gần nhau thì những gì bạn thấy là đường may sẽ bị đứt gẫy gây mất thẩm mỹ. Như vậy phải có sự cân bằng giữa mũi khâu và GSM(số gram trên một mét vuông vải), khoảng 6 mũi trên 1 inch(1 inch = 2.54cm) . Bất kỳ đường may nào nhiều hay ít củng ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của túi vải không dệt.

In ấn

Việc in ấn trên chất liệu polypropylene đã đặt ra nhiều thách thức đối với các nhà cung cấp. Hầu hết các nhà cung cấp túi vải không dệt đều sử dụng kỹ thuật “in màn” hay còn gọi là “in lụa”(sreen print) trên các sản phẩm túi vải không dệt. Kỹ thuật này giúp giảm giá thành và tăng tốc độ mà vẫn đãm bảo kết quả tốt.

Tuy nhiên, kỹ thuật in này trên các sản phẩm túi vải yêu cầu phải có kỹ năng tốt và có các kỹ thuật định dạng tốt để đạt được kết quả như mong đợi. kỹ thuật in màn tập trung vào 3 phần chính: độ bao phủ mực in, số lượng màu sắc cần in lên bề mặt, đảm bảo độ khô của mực sau khi in lên bề mặt túi vải.

Hình 3: kỹ thuật in lụa dùng để in túi vải không dệt

Để đạt được độ bao phủ tốt nhất trên chất liệu vải không dệt đòi hỏi người in phải có được kỹ năng kinh nghiệm cần thiết. Tất cả bắt đầu với cùng một loại mực in, cùng màng in dùng trên áo thun không giống như trên túi vải không dệt. Sự khác nhau giữa các loại vật liệu (giữa vải dệt và không dệt, đặc và xốp) nên các thành phần mực khác nhau. Vì vậy hãy tìm kiếm một nhà cung ứng có thể đem lại cho bạn loại mực tốt có độ phủ mực tốt nhất, cụ thể là mực trắng trên các màu tối như màu đen, đỏ, màu xanh lá hunter, màu xanh dương roya. Việc lựa chọn nhà cung cấp là việc được đề cập đầu tiên để có nhà cung cấp mực có độ phủ mực cao thay vì phải xem xét màu của chất liệu vải.

Khó khăn tăng lên khi cố gắng in nhiều màu. Bởi vì chất liệu thật sự là nhựa, và giữa các lượt in cho các màu khác nhau cần phải được xấy nhiệt, làm cho vải co lại. Vì vậy không thể có hai túi vải không dệt co lại cùng một kích thước khi xấy nhiệt mực in giữa các màu (việc xấy các màu mực để tránh màn in dính màu mực in), và màu sắc thay đổi đáng kể trên túi vải không dệt củng là một thách thức thực tế , điều này dẫn đến một lượng lớn hư hỏng do việc xấy nhiệt gây biến đổi màu sắc trên mặc in hay xấy nhiệt độ quá cao gây biến dạng mặt in.

Thân thiện môi trường

Phần lớn những lời giới thiệu, kêu gọi thông qua chất liệu polypropylen đó là đặc tính thân thiện môi trường. Nhiều túi vải không dệt kèm theo lời giới thiệu có thể tái chế hay có thể dùng lại vì vậy túi vải không dệt đang loại dần các loại túi nhựa khác, và thông thường được tái chế tại cuối chu trình sử dụng.

Suốt quá trình sản xuất, vài nhà cung cấp yêu cầu sản phẩm thừa trong sản xuất vì các sản phẩm thừa này sẽ được tái sử dụng trong các sản phẩm tiếp theo. Vài nhà cung cấp đã không chọn cách này. Tất chất liệu polypropylene thông thường có khả năng tái chế 100% khi không còn sử dụng. Polypropylene được xếp hạng thứ 5 ở khả năng tái chế trong hiệp hội sản xuất nhựa(SPI).

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Thông số Kỹ thuật - Keo Vải

THÔNG SỐ KỸ THUẬT
KEO VẢI No Mã hàng Quy cách Phương thức phủ keo Thông số kỹ thuật Nhiệt độ (0C) Lực ép (Bar/m3) ...



KEO VẢI
No
Mã hàng
Quy cách
Phương thức phủ keo
Thông số kỹ thuật
Nhiệt độ
(0C)
Lực ép
(Bar/m3)
TIME (SEC)
756056F-B44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
766056F-W44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
776040F-B44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
786040F-W44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
794040SF-W44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
808864SF-W44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
818864SF-B44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
826060SF-W44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
838864HF-W44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
846060HF-W44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16
855020SF-W44’’ x 100 M
Spray Fusible
160-180
2-3
10-16

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Keo Mùng

Thông số Kỹ thuật - Keo Mùng

No
Mã hàng
Quy cách
Phương thức phủ keo
Thông số kỹ thuật
Nhiệt độ
(0C)
Lực ép
(Bar/m3)
TIME (SEC)
66
5520F-W
40’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15
67
5520F-G
40’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15
68
9900F-W
44’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15
69
9900F-B
44’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15
70
9901F-W
48’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15
71
9901F-B
48’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15
72
9901F-OW
48’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15
73
302F-B
60’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15
74
302F-B
60’’ x 100 Yds
Double Dot
120-150
3
12-15














 

Copyright @ 2014 thinhvuongtoancau.

Thiết Kế Bởi Phùng Văn Hiên Phùng Văn Hiên & Sponsored By Thịnh Vượng Toàn Cầu